Thứ Tư, tháng 8 08, 2007

http://statementofpurpose.com: những điều cần thiết cho SV du học

http://statementofpurpose.com

Thứ Hai, tháng 8 06, 2007

Well come to Vien's web site: Vespa site

Well come to Vien's web site: Vespa site

Giải quyết hộp thoai cảnh báo của Windows Genuine Advantage

Gần đây, chức năng AutoUpdate của Windows đã tự động tải về cài đặt chương trình kiểm tra bản quyền của Microsoft tên là Windows Genuine Advantage (WGA) Notifications (KB905474). Nếu là phiên bản Windows không có bản quyền thì thường xuyên bị hiển thị cảnh báo mỗi khi bạn khởi động máy tính, không cho bạn tiếp tục tải xuống các upgrade nữa và liên tục đưa ra lời nhắc nhở bạn nên đang ký Windows Genuine Advantage để có được key hợp pháp cho HĐH bạn đang sử dụng. Để xóa cảnh báo này có 2 cách:

1.Sử dụng phần mềm Windows Genuine Advantage Fix, tải về tại: http://rapidshare.de/files/24332859/kb905474_1.5.540.0.rar. Phần mềm khá gọn, chỉ khoảng 1,5 MB. Sau khi tải về giải nén, chạy file cài đặt xong khởi động lại máy là sử dụng được bình thường.

Tôi hiện đang sử dụng HĐH Win XP và sau khi sử dụng phần mềm trên đã tiếp tục upgrade được và không còn hiện cảnh báo mỗi khi khởi động máy. Phần mềm cài đặt khá đơn giản và không chiếm bộ nhớ máy. Cài xong, máy tính của bạn sẽ tiếp tục hoạt động bình thường và bạn có thể dễ dàng sử dụng và cài đặt các ứng dụng của Windows như Windows Media 11 hoặc lnternet Explorer 7.0.

2.Xóa một số file và chỉnh sửa registry theo các bước sau:
Restart máy vào chế độ Safe Mode (trong quá trình khởi động, nhấn F8 rồi chọn Safe Mode).

Vào Windows/System32 rồi xóa các file: wgtray.exe, wgalogon.dll, legitcheckcontrol.dll (nhấn Shift+del để xóa
hẳn). Vào Windows\ System32\dllcache để xóa các file: wgtray.exe, wgalogon.dll.

Vào Start > Run, gõ regedit.

Tìm HKEY_LOCAL_MACHINE \ SOFTWARE \ Microsoft \ WindowsNT \ Current Version \Winlogon \ Notfty, xóa folder Wgalogon (click chuột phải lên folder rồi chọn delete).

Tìm HKEY_LOCAL_MACHINE \ SOFTWARE \ Microsoft \ Windows \ Current Version \ Uninstall, xóa folder WgaNotify.
Thật ra, Các bạn chỉ cần làm bước 1 và 2 thôi cũng đã loại được bảng hiển thị đó rồi.

T.K Theo “Khoa học phổ thông”

DVDFab Platinum Công cụ đa năng dành cho người thích sưu tập phim DVD

Sao chép nguyên đĩa phim DVD, sao chép những phần chọn lọc, sao chép đĩa có chỗ bị trầy xước, cắt bỏ những đoạn phim không thích, cắt đĩa DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5, chuyển 1 đĩa DVD thành đúng 1 đĩa VCD, tạo file ISO, chuyển đổi ra các dạng phim chiếu được trên máy iPos, PSP... là những tính năng chính của DVDFab Platinum 3.

Với dung lượng chỉ 5,57 MB nhưng DVDFab Platinum 3.0.70 có tất cả các tính năng mà bạn cần như sao chép đĩa phim DVD và tự động loại bỏ tất cả các loại mã vùng, mã bảo mật, tạo file ISO cho đĩa DVD phim..., nhân bản đĩa phim DVD với chất lượng 1/1, hay cắt đĩa phim DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5 mà vẫn giữ nguyên cấu trúc menu trên các đĩa đã được chia ra. Ngoài ra với tính năng Write Data, bạn dễ dàng chuyển phim DVD trong máy thành file ISO dữ liệu rồi ghi đĩa CD/DVD dữ liệu từ file ISO này. Chương trình còn có thể chuyển đổi đĩa phim DVD sang MP4 để dùng được trên máy Ipod, Sony PSP..., hay chuyển một đĩa DVD phim thành vừa đúng dung lượng một đĩa VCD. Một tính năng rất đáng chú ý là chương trình có khả năng đánh giá chất lượng đĩa phim DVD tốt hay xấu bao nhiêu phần trăm khi bạn đưa đĩa vào, để từ đó chọn tính năng nào để sao chép (Full Disk hay Clone). Chương trình tương thích với mọi hệ điều hành Windows, kể cả Vista. Bạn tải có thể tải DVDFab Platinum 3.0.70 cho dùng thử 30 ngày tại các địa chỉ sau: http://www.dvdfab.com/ hay http://www.dvdidle.com/. Hay tải trực tiếp từ các địa chỉ:

http://72.55.133.121/download/DVDFabPlatinum3070.exe.

http://www.dvdfab.com/download/DVDFabPlatinum3070.exe.

— Xác lập các tùy chọn:

Khởi động DVDFab Platinum. Bấm nút Common Settings có hình bánh răng ở góc trên bên phải giao diện. Ở hộp Common Preferences xuất hiện (hình 1), bạn có thể tùy chọn lại như sau:

- Bấm chọn mục General bên trái, bên cửa sổ phải bấm nút có hình 3 dấu chấm của mục Ouput directory Temporary directory để ấn định thư mục lưu phim DVD trong ổ cứng, chương trình sẽ tạo thư mục DVDFab để chứa dữ liệu khi bạn chép từ đĩa DVD sang. Đánh dấu kiểm vào tất cả các mục bên dưới như Add autoPlay handler để khi đưa đĩa DVD vào thì chương trình sẽ được khởi động từ hộp thoại Autorun của Windows.

- Bấm nút hình dấu cộng (+) của mục DVD bên trái. Trong menu thả xuống bấm chọn Protection, đánh dấu kiểm vào tất cả các ô như Remove CSS... để chương trình khi sao chép phim DVD vào đĩa cứng hay khi ghi đĩa DVD sẽ tự loại bỏ tất cả các loại mã vùng, khóa bảo vệ...

- Bấm chọn mục DVD to Mobile bên trái. Bên phải gõ vào ô “1 CD” dung lượng là 650 MB hay 700 MB... để khi chuyển từ DVD sang VCD sẽ có dung lượng file tạo thành đúng như đã chọn. Sau cùng, bấm OK để xác nhận và đóng hộp thoại này lại.

— Chép toàn bộ nội dung DVD:

Bỏ đĩa DVD vào ổ đĩa, chương trình sẽ tự khởi động thông qua hộp thoại Autorun. Bạn nhìn vào góc trái bên dưới sẽ biết đĩa đưa vào là DVD-5 hay DVD-9. Mục Quality bên cạnh sẽ cho biết chất lượng (phần trăm) tốt hay xấu đĩa phim DVD. Mục Source sẽ tự động thể hiện tên đĩa và ổ đĩa DVD. Bạn có thể bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi DVD để sao chép và ghi đĩa. Nếu muốn tạo file ISO, bạn bấm nút Choose ISO Image File có hình cái đĩa và tờ giấy của Target rồi chọn nơi lưu file ISO là xong. Bây giờ bạn có thể sao chép đĩa DVD phim bằng các cách sau:

- Nếu máy của bạn có 2 ổ ghi DVD, bạn có thể chép toàn bộ nội dung đĩa phim DVD từ ổ này sang ổ kia. Để thực hiện, bạn bấm chọn mục Full Disk ở cửa sổ trái. Bỏ đĩa DVD trắng vào ổ ghi DVD. Bấm nút Start ở góc dưới cửa sổ phải để tiến hành sao chép và ghi đĩa. Chương trình sẽ tạo file ISO rồi mới ghi vào đĩa DVD. Khi ghi xong nếu muốn ghi tiếp bạn bấm nút Burn Again còn không thì bấm Finish để về lại giao diện chính (hình 2).

- Trường hợp máy chỉ có một ổ ghi DVD, bạn có thể tạo file ISO bằng cách bấm nút Choose ISO Image File có hình cái đĩa và tờ giấy, chọn Target để chỉ định nơi lưu file rồi bấm Start để tạo file ISO. Sau khi tạo file ISO, bạn bấm nút Open có hình cái đĩa và tờ giấy của Source để chọn file ISO phim vừa tạo. Bấm nút Choose ISO Image File của Target, chọn tên ổ ghi DVD rồi bỏ đĩa DVD trắng vào ổ đĩa. Bấm nút Start để ghi file ISO vào đĩa DVD trắng.

Lưu ý: Với những đĩa phim DVD bị cũ hay trầy xước nhẹ, chất lượng đĩa còn dưới 95% (xem tại mục Quality) thì khi tạo file ISO, có thể chương trình sẽ báo lỗi. Bạn nên dùng tính năng Clone để tạo file ISO cho đĩa phim DVD rồi ghi đĩa như trên.

— Chỉ sao chép phần movie:

Một đĩa phim DVD ngoài phần chính là movie còn có các nội dung khác như Trailer (quảng cáo), Extra features... Để sao chép riêng phần movie, bạn bấm chọn mục Main Movie bên cửa sổ trái (hình 3). Bên cửa sổ phải bạn chọn lựa tiêu đề bằng cách đánh dấu kiểm vào ô của cột Title. Xem lại nội dung phim đã chọn ở cửa sổ trái bên dưới. Đánh dấu kiểm vào phần audio tương ứng bên cửa sổ phải Audio rồi lưu thành file ISO phim hay ghi đĩa DVD như nói trên.

Chương trình còn cho phép bạn lựa chọn cao hơn nữa bằng tính năng Customize. Với tính năng này bạn có thể biết chi tiết nhiều hơn nữa về đĩa DVD phim cần trích xuất, sao chép. Cách dùng tương tự như Main Movie.

— Nhân bản phim DVD:

Để tạo một đĩa DVD giống y hệt đĩa DVD phim gốc, bạn bấm chọn mục Clone bên trái (hình 4). Bỏ đĩa phim DVD vào ổ đọc rồi đưa đĩa DVD trắng vào ổ ghi DVD. Bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi DVD. Bấm nút Start bên dưới để chương trình tạo file ảnh rồi tự động ghi file ảnh này vào đĩa DVD trắng. Sau cùng bạn cũng bấm Finish để quay lại giao diện chính chương trình. Còn nếu muốn chỉ tạo file ISO phim DVD, bạn bấm nút Choose ISO Image File của Target để chọn nơi lưu file rồi bấm Start để chương trình tạo file ISO.

Lưu ý: Nếu chỉ muốn ghi đĩa phim DVD ở dạng dữ liệu, bạn hãy đánh dấu kiểm vào ô Copy DVD-Video Data Only ở cửa sổ DVD to DVD - Clone.

— Cắt đĩa:

Bạn có thể cắt đĩa DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5 mà cách bố trí menu trên các đĩa phim DVD sẽ như nhau. Để cắt, bạn bấm chọn Split bên cửa sổ trái. Đưa đĩa DVD-9 vào ổ đĩa DVD. Bên cửa sổ DVD to DVD - Split bên phải, bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của cột Split Chapter, chọn số chapter sẽ cắt ra cho 2 đĩa (bạn cần chú ý đến dung lượng thể hiện khi chia cắt ở các ô Disk1 và 2 ở góc bên dưới). Xong, bấm Start để tiến hành chia cắt và ghi đĩa.

— Tạo và ghi CD/DVD dữ liệu:

Để tạo file ISO dữ liệu cho phim DVD có sẵn trong máy hay ghi đĩa CD/DVD dữ liệu từ file ISO dữ liệu, bạn bấm chọn Write Data bên trái. Bên cửa sổ phải:

- Bấm nút Browse For Folder có hình thư mục của Source. Ở hộp Browse For Folder xuất hiện, bạn tìm đến thư mục có chứa phim DVD (Video_TS) để đưa vào. Bạn cũng có thể bấm nút Open có hình cái đĩa và tờ giấy bên cạnh để đưa file ISO dữ liệu, phim vào Source.

- Bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi CD/DVD, bỏ đĩa CD/DVD trắng vào ổ ghi rồi bấm Start để ghi đĩa. Nếu muốn chuyển phim DVD sang file ISO, bạn hãy bấm nút Chose ISO Image File của Tartget, chọn nơi lưu file rồi bấm Start để tiến hành chuyển đổi. Bạn có thể dùng chức năng Write Data để ghi bất kỳ file ISO dữ liệu nào vào đĩa CD/DVD-R/RW với tốc độ ghi đĩa rất nhanh và an toàn.

— Chuyển đổi DVD:

Với các tính năng Generic, iPod, PSP bạn dễ dàng chuyển đổi phim DVD sang MP4, VCD... để sử dụng trên các đầu máy VCD gia đình hay trên các máy Ipod, PSP... Bạn cần chú ý các tính năng sau:

- Generic: dùng để chuyển đĩa phim DVD sang AVI/MP4... để có thể ghi file chuyển vào đĩa VCD (hình 5).

- iPod: chuyển đĩa DVD phim thành dạng MPEG-4/H.264, MP4... để xem trên máy iPod của Apple.

- PSP: chuyển đĩa DVD phim thành dạng MPEG-4/H.264, MP4... để chơi được trên máy PSP của Sony.

Cách chuyển đĩa phim DVD hay phim DVD có sẵn trong máy cũng giống như phần trên, nghĩa là sau khi đưa đĩa phim DVD vào ổ đĩa, bạn sẽ lưu phim vào thư mục mặc định hay bấm nút Browse For Folder của Target để chọn nơi lưu khác. Chọn Title ở cửa sổ DVD to Mobile rồi bấm Next Start để tiến hành chuyển đổi. ó


NGUYÊN THU
Theo Báo Khoa học phổ thông

Một số thủ thuật hay khi trình chiếu PowerPoint

Khi trình chiếu các slide PowerPoint để minh họa cho bài giảng hay bài thuyết trình của mình, có thể bạn sẽ cần biết những thủ thuật để không cho ai chỉnh sửa nội dung file của mình, không cho hiển thị màn hình đen khi kết thúc, làm nổi bật một vùng trên màn ảnh mà không dùng đến bút laser, ấn định thời gian trình chiếu mỗi slide...

— Ngăn không chochỉnh sửa nội dung tập tin PowerPoint:

Trong những giây phút nghỉ giải lao giữa buổi thuyết trình, nếu bạn cần đi ra ngoài và không muốn ai đó chỉnh sửa gì trong tập tin PowerPoint của mình thì có một phương pháp bảo mật khá đơn giản mà hiệu quả (chỉ áp dụng cho các tập tin PowerPoint). Cách này sẽ làm cho tập tin Powerpoint trình diễn sẽ luôn luôn hiển thị ở dạng Full Screen, và lúc này các thao tác chỉnh sửa copy dữ liệu trên tập tin gốc là hoàn toàn không thể. Thực hiện như sau:

Mở Windows Explorer, truy cập vào thư mục chứa tập tin trình diễn PowerPoint của mình, bấm phải vào nó và chọn Rename. Tiếp đó bạn tiến hành đổi phần mở rộng của tập tin, từ PPT thành PPS. Bạn sẽ thấy biểu tượng của tập tin Powerpoint thay đổi thành một dạng khác. Cứ vừa bấm chuột vào tập tin này thì nó sẽ lập tức trình diễn ở chế độ Full Screen nên không thể chỉnh sửa gì được.

Nếu không thấy phần mở rộng của tập tin PowerPoint hiển thị, bạn vào Folder Options, chọn thẻ View, bỏ dấu chọn trong dòng Hide file extensions for known file types > OK.

Để có thể chỉnh sửa biên tập lại tập tin Powerpoint (dạng PPS), bạn tiến hành sửa phần mở rộng trở lại là PPT như ban đầu là xong.

— Không cho hiển thị màn hình đen khi kết thúc các slide trình diễn:

Thông thường trên PowerPoint, khi kết thúc slide trình diễn cuối cùng sẽ có một màn hình đen, tạo ra một ấn tượng không hoàn hảo lắm với người xem. Bạn có thể vô hiệu hóa sự xuất hiện của màn hình đen này như sau:

Từ màn hình biên soạn của PowerPoint bạn vào menu Tools > Options > View, bỏ dấu chọn trong dòng End with black sile > OK (hình 1).

— Sử dụng công cụ Pen để làm nổi bật một vùng bất kỳ khi trình diễn:

Thông thường khi trình chiếu PowerPoint với máy chiếu (projector), để làm cho học viên chú ý vào một phần nào đó đang hiển thị, người ta thường dùng bút laser để chỉ vào đó. Tuy nhiên nếu không có công cụ này, bạn có thể dùng công cụ Pen mà PowerPoint hỗ trợ sẵn như sau:

Từ giao diện đang trình chiếu slide bất kỳ, bạn bấm phải chuột lên nó. Trong menu xổ ra bạn chọn Pointer Options > Pen (chọn Pen Color, chọn màu bất kỳ để định màu cho vùng cần làm nổi bật), lúc này con trỏ chuột trên giao diện trình diễn sẽ được thay thế bằng một cây bút chì và bạn hãy dùng nó để “tô”, làm nổi bật vùng cần tạo sự chú ý (hình 2).

Thao tác này chỉ có tác dụng tạm thời trên slide trình diễn và hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới tập tin gốc của bạn.

— Ấn định thời gian trình diễn cho mỗi slide PowerPoint:

Thủ thuật này sẽ giúp cho bạn chủ động hơn trong việc quản lý thời gian khi thuyết trình với các slide trong PowerPoint. Bạn sẽ đo được thời gian thuyết trình từng slide rất cụ thể để từ đó đề ra phương án tốt nhất cho buổi trình chiếu của mình.

- Trên giao diện biên soạn của PowerPoint, bạn bấm chọn slide đầu tiên.

- Vào menu Slide Show > Rehearse Timings, lúc này slide sẽ chuyển sang chế độ trình diễn và đồng thời sẽ xuất hiện thêm thanh công cụ đồng hồ thời gian bắt đầu chạy ở góc bên trái: bạn bắt đầu thử tự thuyết trình để đo thời gian. Khi xong Slide1, để tiếp tục sang Slide2 bạn bấm vào nút mũi tên từ trái sang phải, và cứ tiếp tục thuyết trình thử như vậy cho tới slide cuối cùng (hình 3).

- Sau khi tới slide cuối, khi bấm chuột vào nút mũi tên, PowerPoint sẽ đưa ra thông báo hỏi bạn có ấn định thời gian cho các slideshow hay không (đồng thời trên đây cũng có thông báo tổng số thời gian mà bạn đã tự thuyết trình lúc nãy). Bạn hãy chọn Yes để trở về môi trường soạn thảo. Lúc này bạn sẽ được thông báo chi tiết hơn về thời gian thuyết trình riêng của các slide mà bạn vừa tiến hành.

— Xem thử trình diễn khi đang soạn thảo (chỉ dùng từ PowerPoint XP trở lên):

Thủ thuật này sẽ cho phép bạn chạy trình diễn slide ngay khi đang thiết kế nhưng không ở chế độ Full Screen, nó sẽ giúp bạn hình dung dễ hơn mức độ thẫm mỹ của slide và có thể sửa chữa ngay khi cần.

Khi đang ở chế độ soạn thảo Normal, trên thanh công cụ phía dưới bên trái bạn bấm giữ Ctrl rồi bấm chọn nút công cụ trình diễn (nút thứ ba tính từ trái qua). Lúc này sẽ xuất hiện một khung trình diễn nhỏ ở góc trên bên trái của màn hình, trình diễn slide mà bạn đang biên soạn trong khi màn hình soạn thảo vẫn đang nằm ở phía bên dưới (hình 4). Bạn có thể bấm Alt+Tab để di chuyển qua lại giữa hai cửa sổ này. Ngay khi bạn có sự thay đổi gì trên slide biên soạn phía bên dưới, tất cả thông tin sẽ được lập tức cập nhật trong khung trình diễn phía trên. ó


TRẦN ĐẠI MINH TRÍ
Theo Báo Khoa học phổ thông

Portable Windows XP: Khởi động từ flash USB

Hẳn là bạn sẽ rất tốn công để làm cho ổ đĩa flash USB của mình thành một đĩa boot, và lại càng tốn công hơn nữa để “chế biến” sao cho hệ điều hành Windows XP có thể chạy được từ ổ đĩa này. Một chương trình Portable Windows XP sẽ giúp bạn làm cả hai công việc trên một cách khá dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, biến flash USB của bạn thành một đĩa cứu hộ khi máy gặp sự cố.

Việc tạo tính năng boot cho ổ đĩa flash USB đã khó, việc cài Windows XP trên flash USB để khởi động lại càng khó hơn rất nhiều lần. Nhưng nay với phần mềm Portable Windows XP, bạn sẽ dễ dàng làm được điều này chỉ qua vài bước đơn giản. Bạn có thể mang flash USB đi mọi nơi và dễ dàng vào được Windows XP dù máy bạn đang sử dụng không hề có hệ điều hành này. Ngoài ra, đây cũng là một đĩa cứu hộ khi cần thiết.


n CHUẨN BỊ:

1. Windows XP Portable làm từ BartPE, hoàn toàn miễn phí và dung lượng chỉ 48 MB, bạn có thể tải trực tiếp tại: http://tinyurl.com/2vry6p.

2. Một ổ đĩa flash USB còn trống từ 157 MB trở lên.

3. Một máy tính cài sẵn HĐH Windows XP.

n THỰC HIỆN:

1. Tải chương trình về và giải nén vào ổ cứng.

2. Khởi động tập tin WinXPPortablewxpusbn.exe, trong cửa sổ hiện ra, bấm nút Browse và dẫn tới thư mục cài đặt Windows XP của bạn, nó sẽ giải nén vào ổ đĩa cài XP của bạn tập tin LiveXP.bat và thư mục INSTALLDIR.

3. Bạn vào ổ đĩa cài đặt Windows XP và khởi động tập tin LiveXP.bat. Một cửa sổ dòng lệnh hiện ra.

- Bạn hãy gõ số 1 > Enter (xác định thư mục chứa các tập tin cần thiết để cài Portable XP), và tiếp tục nhập vào đường dẫn đến thư mục INSTALLDIR trong ổ đĩa cài Windows (thường là C:\ INSTALLDIR). Bấm Enter.

- Bạn gõ số 2 > Enter (để xác định ổ đĩa sẽ cài Portable XP) rồi gõ ký tự của ổ đĩa flash (ví dụ ở đây là I:\).

- Bạn có thể gõ số 4 > Enter để tiến hành format flash USB nhưng việc này là không cần thiết.

- Bạn gõ số 5 rồi Enter để tiến hành cài đặt Portable XP lên flash USB. Có hai lựa chọn:

Gõ số 1 > Enter, khi bạn dùng flash USB này để boot, máy tính sẽ tự boot thẳng vào Portable XP (tất nhiên bạn phải vào BIOS Setup để chọn ưu tiên khởi động từ USB).

Gõ số 2 > Enter, sẽ có một menu khi khởi động để bạn chọn vào Portable XP hay HĐH của máy đang dùng.

Dù lựa chọn nào, quá trình cài đặt cũng khá lâu, vì có rất nhiều file được chép vào flash USB.

Sau khi cài đặt xong, bạn gõ phím q rồi Enter để thoát khỏi cửa sổ dòng lệnh này. Thế là bạn đã có một flash USB mang hệ điều hành Portable Windows XP để sử dụng mọi lúc mọi nơi. O


LƯU NHẬT NAM
Theo "Báo Khoa học phổ thông"

Những tiện ích miễn phí, nhỏ mà hay

Những tiện ích rất nhỏ, chỉ khoảng vài chục kilobyte, được NirSoft cung cấp miễn phí, có thể sẽ đem lại ích lợi lớn nếu nó đúng là thứ bạn đang cần: Tìm lại password mà giờ đây chỉ còn là những ký tự hình sao trong máy; Xóa đi một số địa chỉ web đã lưu lại trong History; Tìm tại số đăng ký của một phần mềm...

Các tiện ích sau đây tương thích với hầu hết các phiên bản của hệ điều hành Windows, có dung lượng file nén không quá 100 KB, hoàn toàn miễn phí, tải về từ địa chỉ http://www.nirsoft.net.


l Nhóm Internet

- CustomizeIE 1.0 - 25 KB: thêm, xóa, sửa các nút lệnh trên thanh công cụ của trình duyệt IE, tương thích với IE 5 trở lên.

- IEHistoryView 1.34 - 43 KB: xem, xóa nhật ký lướt web.

- IECookiesView 1.70 - 94 KB: xem, xóa tất cả các Cookies được lưu trong máy.

- SeqDownload 1.20 - 40 KB: có nhiều trang web hỗ trợ các hình ảnh “sống”, nghĩa là những ảnh đó luôn thay đổi theo từng phút, từng giây, tiện ích này sẽ giúp bạn “chộp” các ảnh này theo thời gian thực để lưu vào máy.

- TurnFlash 2.10 - 7 KB: cho phép bạn dễ dàng hủy bỏ hoặc kích hoạt các thành phần flash trong trình duyệt.

- HTMLAsText 1.05 - 28 KB: chuyển đổi nội dung trang HTML thành file văn bản dạng text.

- IPNetInfo 1.09 - 48 KB: tìm kiếm tất cả các thông tin hữu dụng về địa chỉ IP như: chủ địa chỉ IP, tên quốc gia, dãy địa chỉ, thông tin liên lạc (điện thoại, số fax, địa chỉ email...).

l Nhóm Network

- SniffPass 1.01 - 42 KB: “đánh hơi” và chộp lấy mật khẩu đang lưu trong hệ thống mạng và hiển thị lên màn hình cho bạn theo dõi.

- SmartSniff 1.30 - 58 KB: “chụp” lại các gói tin đang di chuyển qua các thiết bị mạng của bạn và cho phép bạn xem nội dung cuộc “nói chuyện” giữa client và server dưới dạng ASCII mode, chương trình hỗ trợ các giao thức như HTTP, SMTP, POP3, FTP.

- AdapterWatch 1.01 - 37 KB: xem những thông tin cơ bản về Network Adapter của bạn như IP address, Hardware address, WINS servers, DNS servers, MTU value, số byte gửi / nhận, tốc độ truyền tải....

- NetResView 1.10 - 42 KB: xem danh sách chia sẻ tài nguyên mạng LAN như computers, disk shares và printer shares.

- CurrPorts 1.20 - 48 KB: xem danh sách tất cả các cổng TCP/IP và UDP hiện thời được mở ra trên máy tính của bạn, ở mỗi cổng đều có thông tin cụ thể về chương trình đang sử dụng cổng đó.

l Nhóm Password

- Access PassView 1.12 - 18 KB: xem lại mật khẩu file Access mà bạn đã lỡ quên, tuy nhỏ nhưng tiện ích này rất mạnh khi dò tìm mật khẩu, và bạn có thể xem được hầu như tức thời mật khẩu đã thiết lập trong file Access.

- Dialupass 2.43 - Dialup/RAS/VPN Password Recovery - 42 KB: lấy lại Username và Password đã lưu trên máy khi sử dụng kết nối Dial Up để đăng nhập mạng.

- Asterisk Logger 1.02 - 24 KB: lấy lại những mật khẩu từ dạng dấu “*” về dạng bình thường có thể đọc được.

- IE PassView 1.04 - 43 KB: xem lại mật khẩu đã lưu trong trình duyệt IE từ phiên bản IE 4.0 trở lên.

- Mail PassView 1.38 - 53 KB: lấy lại Username và Password của các trình duyệt mail như Outlook Express, Microsoft Outlook, Windows Mail, Mozilla Thunderbird, Yahoo! Mail, Gmail...

- Network Password Recovery 1.10 - 40 KB: lấy lại tất cả các mật khẩu mạng đã được lưu trữ trong hệ thống để theo dõi.

- Protected Storage PassView 1.63 - 33 KB: đọc lại mật khẩu được lưu trong máy bạn bởi các trình duyệt IE, OE và MSN Explorer từ kho lưu trữ của Windows.

- Remote Desktop PassView 1.00 - 35 KB: xem lại mật khẩu được lưu trữ bởi tiện ích Windows là Microsoft Remote Desktop Connection.

l Nhóm Utilities

- ProduKey 1.06 - 37 KB: lấy lại số đăng ký của các chương trình MS Office, Windows, Exchange Server, SQL Server đã cài đặt trong máy.

- ServiWin 1.30 - 39 KB: xem danh sách toàn bộ các trình điều khiển và các dịch vụ hệ thống hiện đang chạy trong máy, thực hiện việc dừng, chạy, tạm dừng, khởi động lại... các trình điều khiển và dịch vụ hệ thống một cách dễ dàng.

- FileDate Changer 1.1 - 21 KB: thay đổi lại ngày, giờ tạo lập, sửa, truy xuất của một hoặc nhiều file cùng một lúc.

- DriverView 1.10 - 35 KB: xem danh sách các trình điều khiển thiết bị được nạp vào hệ thống khi khởi động máy với các thông tin như: load address of the driver, description, version, product name...

- CurrProcess 1.11 - 39 KB: xem danh sách tất cả các tiến trình đang chạy trong hệ thống để thay đổi quyền ưu tiên khi thi hành, xóa tiến trình, in bộ nhớ của tiến trình ra giấy, tạo lập báo cáo về hoạt động các modul của tiến trình đang xử lý chạy trong bộ nhớ. O


VÕ NGỌC HIỆP
Theo "Báo Khoa học phổ thông"

Netscape Navigator 9.0 beta: Sự hồi sinh của trình duyệt một thời vang bóng

Nhiều người cho rằng trình duyệt web Firefox rất hay, còn hay hơn cả IE của Microsoft, nhưng ít ai ngờ rằng Firefox đã thừa hưởng mã nguồn từ Netscape Navigator, một trình duyệt web có thời đứng hàng đầu nhưng dần dần bị IE chiếm mất thị phần. Nay với phiên bản mới 9.0 beta, phối hợp những tính năng tiện dụng, có vẻ như Netscape Navigator đang lấy lại phong độ vốn có của mình.

Người sử dụng Internet đã rất quen thuộc với trình duyệt mã nguồn mở Firefox. Mã nguồn Firefox được lấy từ Netscape Navigator (NN), một trình duyệt xuất hiện khá lâu đời, và đã từng lấn át Internet Explorer một khoảng thời gian dài, cho đến khi IE chính thức được tích hợp vào Windows, NN đã mất ngôi vị của mình và công bố mã nguồn. Cho đến nay NN vẫn còn chỗ đứng trong lòng nhiều người và được ToptenReview đánh giá là phần mềm duyệt web tốt thứ 4 trên thế giới. Vừa qua, NN lại nâng cấp lên bản 9.0 beta, hứa hẹn là trình duyệt có thể cùng Firefox và Opera thay thế Internet Explorer trong tương lai. Dung lượng 5.56 MB, tải tại http://browser.netscape.com.

CÁC ƯU ĐIỂM CỦA NETSCAPE 9.0:

1. Tích hợp toàn bộ ưu điểm của Firefox: như đã nói ở trên, Firefox được phát triển từ mã nguồn của NN nên hai trình duyệt này có khá nhiều điểm giống nhau (nhất là giao diện, các menu, thanh address, khung search...), và NN giờ đây cũng đã tận dụng được các ưu điểm của Firefox như:

- Độ bảo mật cao (chặn các popup, ít lỗi bảo mật...)

- Riêng NN được tích hợp thêm Security Center (theo dõi trạng thái bảo mật của NN và cảnh báo khi cần thiết) và Anti-Spyware Protection (ngăn chặn spyware với chế độ quét ngay khi lướt web) - hai chức năng này mới được bổ sung ở phiên bản 9.0 beta.

- Tốc độ lướt web nhanh không thua kém gì Firefox và Opera.

- Tự cập nhật và đọc tin RSS và toàn bộ các tính năng hữu ích của Firefox như quản lý password, tự phục hồi các thẻ khi NN bị treo giữa chừng, phục hồi các thẻ vừa đóng (vẫn dùng tổ hợp phím tắt Crtl+Shift+T)...

- Có thể sử dụng các extension của Firefox mà không hề gặp trục trặc gì.

Chẳng những thế, NN còn khắc phục được các nhược điểm của Firefox để:

- Sử dụng ít dung lượng RAM khi hoạt động. NN có thể chạy trên máy 64 MB RAM, CPU 233 MHz và khi chạy dung lượng RAM sử dụng không bao giờ quá 50 MB.

- Chế độ duyệt web theo thẻ hoàn hảo hơn.

- Truy cập trang web nghe nhạc trực tuyến suôn sẻ hơn.

2. Có thể sử dụng các favorite, các bookmark từ trình duyệt Firefox, Opera và Internet Explorer. Hộp thoại Import Bookmark sẽ xuất hiện ngay khi bạn khởi động lần đầu, nếu không bạn có thể làm thủ công bằng cách vào menu Bookmarks > Organize Bookmarks, trong cửa sổ hiện ra, vào menu Files > Import Bookmarks.

3. Tự phát hiện các đường dẫn gõ sai và sửa lại: khi bạn gõ sai sẽ có một thông báo kèm theo đường dẫn mà NN dự đoán là chính xác. Nếu bạn bấm Yes thì NN sẽ ghi nhớ lại, lần gõ sai sau NN sẽ tự động sửa lại cho bạn.

4. SideBar: là một thanh công cụ xuất hiện bên trái trình duyệt. Để mở lên, bạn hãy vào menu View > SideBar, có các mục:

- Bookmark và History (cũng có trong Firefox): các trang đã từng ghé qua và được lưu trong bộ nhớ.

- Link Pad: lưu trữ địa chỉ web. Khi thấy một trang web hay, bạn chỉ cần bấm và kéo thả vào khung Link Pad, nó sẽ được lưu trữ cho bạn.

- MiniBrowser: tách NN thành 2 trình duyệt nhỏ chạy song song trên một cửa sổ. O


LƯU NHẬT NAM
Theo "Báo Khoa học phổ thông"

Safari 3 - trình duyệt web“lợi hại” của Apple dành cho Windows



Cuộc chiến dành thị phần của các trình duyệt web đang thật sự nổ ra, trong đó kẻ mới đến Safari 3 đã tỏ ra vô cùng lợi hại. Chỉ xem tốc độ duyệt web của nó thôi cũng đáng để cho ta dùng thử: nhanh gấp đôi IE, gấp 1,6 lần Firefox!

Là người sử dụng Internet, ắt hẳn các bạn sẽ cho rằng Firefox, Internet Explorer hay Opera là 3 trình duyệt đứng đầu hiện nay. Đối với người dùng trên thế giới, nhất là ở Việt Nam, máy tính của Apple cùng với hệ điều hành MacOSX vẫn còn chưa phổ biến nên ít ai biết đến một trình duyệt web siêu hạng được tích hợp trong nó. Đó chính là trình duyệt web Safari. Và nay, Apple đã tung ra phiên bản Safari public 3 beta dùng cho Windows, trở thành một đối thủ rất nặng ký của 3 trình duyệt nói trên.

Nếu đã từng sử dụng qua iPod, ắt hẳn bạn cũng biết vì sao nó lại chiếm cảm tình của đa số người dùng hơn là máy nghe nhạc thế hệ mới Zune của Microsoft, và ngay cả hệ điều hành Windows Vista cũng chịu ảnh hưởng không ít từ MacOSX của Apple. Đó chính là vẻ đẹp tuyệt vời của những ứng dụng phát triển bởi Apple với những tính năng cực kỳ hữu ích của nó, và trình duyệt web Safari này cũng không ngoại lệ. Chúng ta hãy cùng điểm qua những tính năng chính mà Apple cho rằng sẽ là “lật đổ Internet Explorer của Microsoft” xem sao.

1. Tốc độ cực nhanh:

Theo như thử nghiệm của Zdnet, một trang chuyên về công nghệ thông tin của Cnet Network thì tốc độ của Safari nhanh gấp 2 lần IE và 1,6 lần so với Firefox. Tôi đã sử dụng và vô cùng bất ngờ về tốc độ của nó. Biểu đồ phía trên cho thấy tốc độ khi duyệt vào trang http://khoahocphothong.com.vn: Safari mất 2,14 giây, Firefox 2: 3,67 giây, IE 7: 4,63 giây, Opera 9: 6.22 giây.

2. Giao diện thân thiện:

Giao diện bóng bẩy và rực rỡ của MacOSX đã được đưa vào Safari. Cửa sổ duyệt web của Safari rộng hơn nhiều so với những trình duyệt web khác.Thanh trạng thái (Status bar) sẽ được tích hợp ở khung Address mở rộng tầm nhìn cho người sử dụng. Điều này giúp bạn thoải mái và nhanh hơn trong khi duyệt web.

3. Tạo và quản lý bookmark một cách chuyên nghiệp:

Nếu đã từng sử dụng qua iTunes, bạn sẽ cảm thấy giao diện quản lý bookmark rất quen thuộc. Việc tạo thêm, quản lý và tìm kiếm bookmark sẽ chẳng khác gì khi bạn quản lý nhạc bên iTunes.

Ở lần đầu tiên sử dụng, Safari sẽ tự động nhập tất cả các bookmark từ các trình duyệt có trong máy bạn.

Để kích hoạt trang quản lý bookmark, bạn vào menu Bookmarks > Show All Bookmarks. Để đóng nó lại, bạn vào Bookmarks > Hide All Bookmarks.

Ngoài ra, bạn có thể xuất và nhập các bookmark bằng cách sử dụng lệnh Export (xuất) và Import (nhập) trong menu File.

4. Chống pop-up hiệu quả:

Khi sử dụng Firefox và IE, đôi khi bạn vẫn còn bị làm phiền bởi những quảng cáo pop -up cực kỳ thông minh. Nhưng khi đến với Safari, tình trạng này sẽ không còn nữa vì mặc định, Safari ngăn cản mọi cửa sổ trình duyệt mở ra một cách tự ý mà không được người dùng bấm vào liên kết.

Nếu muốn tắt chức năng này, bạn chỉ cần vào menu Edit, bỏ dấu chọn Block Pop-up Windows.

5. Tìm kiếm tiện lợi:

Nếu cảm thấy quá phiền toái với hộp thoại tìm kiếm từ trong trang web ở trình duyệt IE hay Firefox, bạn sẽ thấy vô cùng thoải mái khi sử dụng ô tìm kiếm của Safari.

Để kích hoạt chức năng này, bạn có thể vào menu Edit > Find hoặc bấm tổ hợp Ctrl+F, thanh tìm kiếm sẽ tích hợp phía dưới thanh bookmark.

Nếu từ khóa thích hợp, kết quả tìm kiếm sẽ hiện ra nổi bật so với nền giúp bạn dễ dàng trong việc lọc thông tin.

6. Duyệt web theo thẻ (tab):

Như bao trình duyệt web thế hệ mới khác, Safari cũng không thể thiếu chức năng duyệt web theo thẻ vô cùng tiện lợi. Bạn có thể sắp xếp lại thứ tự các thẻ bằng cách kéo và thả. Ngoài ra, nếu muốn tạo bookmark một loạt các tab đang mở, hãy bấm chuột phải vào một tab, chọn Add Bookmark for these (số) tab.

7. Trở lại vị trí ban đầu (SnapBack):

Khi duyệt một trang web có quá nhiều mục con hay khi sử dụng bộ máy tìm kiếm, bạn thường phải tốn công gõ lại địa chỉ trang chủ. Với Safari, chỉ với một cú bấm chuột, bạn đã trở về. Để sử dụng tính năng này, bạn chỉ việc bấm vào nút mũi tên màu cam phía bên phải thanh Address. Bạn sẽ được đưa về trang ban đầu một cách nhanh chóng.

8. Tự động điền tài khoản và password:

Khi truy cập vào webmail hay một trang đăng ký ở website nào đó, Safari sẽ tự động điền tất cả các thông tin cần thiết mà bạn đã xác định trước. Để sử dụng tính năng này, trước tiên bạn phải điền các thông tin của mình bằng cách vào menu Edit > Preferences > Autofill, đánh dấu chọn vào ô Using info from my Adress book card và ô Username & Password. Sau đó, bấm vào nút Edit để chỉnh sửa thông tin cho phù hợp.

9. Trình đọc tin RSS tích hợp:

Một điều vô cùng tiện lợi của Safari là nó kèm theo một trình đọc tin RSS được quản lý chung với bookmark, bạn có thể quản lý và tìm kiếm để đọc tin. Để mở trình đọc tin RSS lên, bạn vào Bookmarks > View All RSS Articles. Nếu muốn thêm một nguồn RSS nữa thì bạn chỉ việc truy cập vào trang RSS bằng trình duyệt, sau đó thêm nó như cách thêm bookmark.

10. Duyệt web bảo mật:

Nếu bạn không muốn những thông tin cá nhân của mình rơi vào tay hacker thì cách đề phòng an toàn nhất là không lưu lại cookies, history, password... Safari đã cung cấp chức năng tự động không lưu lại các thông tin này. Bạn hãy kích hoạt nó bằng cách vào Edit, chọn Private Browsing. Một hộp thoại hiện ra, bấm OK là xong.

Bạn có thể tải miễn phí bản Safari Public 3 và mã nguồn tại địa chỉ http://www.apple.com/safari/ hoặc bản portable tại địa chỉ http://rapidshare.com/files/37689313/Portable_Safari.rar. O


NGUYỄN CAO CƯỜNG
Theo "Báo khoa học phổ thông"